Sách ebook được sưu tầm từ Internet, Bản quyền sách thuộc về Tác giả & Nhà xuất bản

Ma Câm: Ma Khóc Dưới Hồ Tiên Đôn

Chương 13: Chuyện ma trong núi

Tác giả: Thiên Hạ Bá Xướng

Bức bích họa thiên cẩu ăn mặt trăng vẽ hình xác chết đeo mặt nạ vỏcây, mộ cổ dưới hồ Tiên Đôn, người chết thủng ruột trong chiếc quan tàibằng ngọc. Với ngôi mộ trên núi đó, tôi cũng chỉ biết có vậy. Nếu vàođược trong hầm mộ, tôi tin sẽ còn nhiều phát hiện kinh người nữa. Chúngtôi đi qua loạt động trong Thảo Hài Lĩnh một cách thuận lợi, khắp nơiđều có hang động, mỗi động một vẻ, nhưng trong con mắt giới đổ đấuchuyên nghiệp, thì cho dù các hang động có hình thù cổ quái tới đâu cũng không nằm ngoài mười tám loại hình hang động đã được tổng kết, phongthủy gọi là “sơn trung thập bát khổng” mỗi loại có một cách đi riêng,tôi từng nghe lão Nghĩa mù giới thiệu, trong cuốn “Âm Dương bảo kíp” của nhị lão đạo cũng có nói tới. Muốn ra khỏi động Hoàng Sào không phải làkhó. Quá trưa, chúng tôi tới phía nam Thảo Hài Lĩnh, ba phía đều lànhững ngọn núi cao vút, cho dù có chắp thêm cánh cũng không bay quađược, diện tích hồ rộng 370 hecta nằm giữa các dãy núi, ven hồ mọc đầylau sậy, phía xa là màu sương mù, trắng đục. Năm xưa, mực nước hồ TiênĐôn cao hơn bây giờ rất nhiều, nước trong hồ thông thẳng vào động NgưKhốc, cá trong động chưa hẳn là cá thần, những truyền thuyết như vậy vốn không có căn cứ. Người xưa vốn nhàn hạ, sau bữa tối thì rảnh rang không có việc gì làm, ngoài chuyện sinh con ra thì chuyên nghĩ ngợi linh tinh rồi kể chuyện, bốn tác phẩm văn học lớn của Trung Quốc cũng được ra đời như vậy mà thôi. Nhưng núi Hùng Nhĩ là một bảo huyệt trong dãy núi long mạch của Trung Nguyên, những chỗ nước rút giờ đã thành đầm lầy, là nơicư trú của vịt trời và chim nhạn.

Điếu bát che tay ngang trán nhìn ra xa: “Mộ cổ dưới hồ Tiên Đôn chắcchắn ở bên kia, tôi đã nhìn thấy bảo khí toát lên từ địa cung.”

Tôi nói: “Anh đừng vội nhắc đến điều đó, chúng ta đã bỏ qua một tình tiết hết sức quan trọng, làm thế nào để ra hồ đây?”

Điếu bát và Mặt dày nghe tôi hỏi thì ngẩn người, chẳng ai nghĩ tớiviệc quanh Tiên Đôn tứ bề đều là nước, không có ghe thuyền thì không thể qua hồ, bơi thẳng ra thì cũng không được phần vì hồ rộng, phần còn phải mang vác xẻng, dây thừng, lương khô, đèn pin, túi ngủ v.v… trọnglượng chiếc ba lô không phải là nhẹ, xuống nước chắc chắn sẽ chìm xuốngđáy hồ luôn. Hai nữa, nghe nói dưới đáy hồ có cương thi, đó là những xác chết đeo mặt nạ vỏ cây, chúng tôi to gan đến mấy cũng không dám lộithẳng xuống nước. Ba người bàn bạc một hồi, quyết định xuống hồ từ phíanúi Thương Mã, tới đầm Canh gà trước. Nghe nói, người dân vẫn hay vàotrong đầm nhặt trứng vịt trời, có thể ở đó sẽ có thuyền bè để lại.

Chúng tôi không mang nhiều lương khô, dọc đường lại bị chậm một ngày, như vậy thời gian đào mộ cũng bị giảm bớt đi một ngày. Sau khi lên kếhoạch, chúng tôi tìm đường xuống núi. Nếu là mực nước năm xưa của hồTiên Đôn thì quả không có đường xuống thật, nhưng nay nước đã rút, phầntiếp giáp với núi Thông Mã hình thành một khu đầm lầy rộng khoảng hơntrăm mét mọc đầy lau sậy. Chúng tôi đi xuyên qua khu đầm lầy tiến vềphía Nam, trước khi mặt trời lặn thì tới được đầm Canh gà. Vùng này lausậy mọc dày đặc, mặt nước lung linh trong ánh chiều, tiếng chim nhạn kêu giữa bầu không, từng làn gió thu nhè nhẹ thổi, những bông lau bay trong gió tựa hồ tuyết rơi, cảnh vật đẹp như tranh vẽ. Nhưng trước khi tớiđây chúng tôi được nghe nhiều câu chuyện về cương thi hồ Tiên Đôn nênchỉ thấy phía dưới mặt hồ tĩnh lặng kia đang ẩn chứa nhiều bí ẩn.

Đầm Canh gà chỉ có một lối đi duy nhất chưa thể gọi là đường, hai bên toàn là đầm trạch, vận may của chúng tôi không đến nỗi tồi, theo conđường đó, chúng tôi tìm thấy ba chiếc thuyền độc mộc, trong đó hai chiếc đã hỏng nặng, chiếc còn lại tương đối tốt. Thuyền độc mộc là loạithuyền được đẽo từ một thân cây nguyên vẹn, có thể chở được vài bangười, dùng mái chèo để di chuyển trên nước. Điếu bát nhìn hoàng hôn dần tàn, liền nói: “Đêm nay đành nghỉ lại trong đầm lau sậy này, sáng maiđào mộ dưới hồ sau vậy.”

Chúng tôi cũng không đi nổi nữa, liền tìm chỗ khô ráo ngồi lại giở lương khô ra ăn cho đỡ đói.

Mặt dày luôn miệng chê lương khô cứng, ăn gãy cả răng, anh ta nói:”Món ăn hoang dã ngon nhất vẫn là sóc đất. Hai năm trước, khi tôi cònđóng quân ở Tây Bắc, thường chạy xe đường dài, cũng thường xuyên khôngcó cái ăn. Nếu bắt được một con sóc đất thì coi như được đổi bữa. Bọnsóc đất này con nào con nấy béo tròn, nướng trên lửa mỡ cứ chảy ra xèoxèo.”

Điếu bát dường như cũng được ăn thịt sóc đất rồi: “Ừ… thịt nó giống thịt cầy vòi mốc, nhưng ăn thịt sóc đất phải chú ý thời gian, nếu ănsau tiết Kinh Trập[1] nách nó sẽ bị hôi, không thể ăn được.”

[1] Tiết kinh trập: là khoảng thời gian bắt đầu từ 5/3 đến 21/3 trước khi tiết xuân phân bắt đầu.

Tôi nói: “Sao thứ gì mấy người cũng ăn vậy? Bọn sóc đất chân taygiống như người, nướng chín rồi trông chẳng khác gì thịt người nướng.Hơn nữa sóc đất rất cảnh giác, hang của chúng thường có nhiều cửa, không dễ bắt đâu.”

Mặt dày nói: “Nghe là biết chú không phải dân sành ăn rồi. Sóc đấtchuyên ăn rễ cây, những vùng bị chúng cắn hết rễ cây thì không có bóngdáng cây cỏ nào, mình ăn thịt chúng chính là trừ hại cho nhà nông. Hơnnữa hang sóc đất thường có hai cửa hang, chỉ cần hun khói một đầu cửahang, cầm sẵn gậy đứng chờ ở đầu cửa hang bên kia chờ bắt là xong, nếucó chó thì càng đơn giản hơn, không cần mình phải ra tay. Lần sau có cơhội đi Tây Bắc tôi mời hai người ăn thịt sóc đất, hôm nay đành gặm tạmlương khô vậy. À, mà sao tụi mình không bắt vài con vịt trời nếm thửnhỉ?”

Tôi và Điếu bát nghe anh ta nói vậy thấy đây cũng là một ý hay, đúnglà nên đi thám thính xem. Cả bọn cất lại mấy miếng bánh cứng còng, rónrén trong đám lau sậy tìm khắp nơi, nhưng đến một cọng lông vịt cũngkhông có. Bỗng thấy đám lau sậy phía trước sột soạt lay động, dường nhưcó vật gì đó đang động đậy, tôi rón rén tiến lên phía trước, nhẹ nhàngrẽ đám sậy trước mặt, bỗng giật thót mình, suýt chút nữa bật kêu lênthành tiếng.

2

Tôi vội lấy tay bịt miệng, cúi thấp người, không dám thở mạnh, vộiđưa tay ra hiệu cho Điếu bát và Mặt dày cũng nằm xuống. Hóa ra, sau đámlau sậy là một toán người khoảng hơn chục tên, đứa dẫn đầu thấp, béotròn, khoảng ngoại tứ tuần, đầu hắn to hơn hẳn người bình thường, miệngrộng, mắt cười híp mí, lúc nào cũng thường trực nụ cười giả tạo, trôngbề ngoài, hắn không khác gì bức tượng phật Di Lặc trong chùa.

Tôi và Điếu bát đều biết tên này, hắn là Hoàng Tam, mọi người đều gọi hắn là Hoàng phật gia, một tay anh chị ở chợ âm phủ. Thời trẻ bán cháoquẩy, mấy năm gần đây phát tài nhờ đi đào trộm mộ. Nghe phong thanh,Hoàng phật gia chẳng có tài cán gì, nhưng thủ đoạn rất nham hiểm, lạithêm bọn đầu gấu bám theo hắn làm ăn, chỉ cần làm giàu không cần biếtđến lý lẽ. Trước đây, hắn cũng hay tới tìm lão Nghĩa mù nhờ chỉ giúp nơi nào có mộ cổ, nhưng lão Nghĩa mù đều từ chối không gặp, nhiều lần nhưvậy, về sau hắn cũng ít tới hơn. Tôi gần như chẳng bao giờ qua lại vớihắn.

Tôi không ngờ lại gặp phải Hoàng phật gia ở đây. Hai người kia theosát phía sau tôi, biết tình hình cũng vô cùng kinh ngạc, không ai dámlên tiếng. Thuộc hạ của Hoàng phật gia đứa nào trong tay cũng có súngtrường hoặc súng lục, một số thằng còn đeo những ba lô chứa đầy thuốcnổ. Người dân địa phương ở đây có truyền thống săn nhạn và vịt trời, chỉ cần có tiền muốn mua bao nhiêu súng săn mà chẳng được, số thuốc nổ kiachắc cũng mua từ những mỏ khai thác than lậu, bọn này to gan thật.

Tôi nghĩ bụng: “Nghe nói bọn Hoàng phật gia là một đội quân đào mộđược trang bị vũ trang, quả nhiên không sai. Bọn này định dùng thuốc nổđể đi đào mộ trên núi Hùng Nhĩ chắc?”

Bỗng nghe một tên có eo gầy như eo rắn trong đám thuộc hạ lên tiếng:”Có bản đồ mộ cổ rồi còn cần người địa phương dẫn đường nữa sao?”

Một tên khác có vết sẹo trên mặt trả lời: “Bọn mình làm gì có bản đồ? Trên hồ sương mù có thể nổi lên bất cứ lúc nào, nếu không có người bảnđịa dẫn đường thì không ổn.”

Tên eo rắn cười hí hí nói: “Mày không biết đấy thôi, có một thằng ngu tên là Điếu bát đi rêu rao khắp nơi tìm người để lấy tấm bản đồ trongchiếc gối sứ trăm tuổi, nó vừa muốn lấy tấm bản đồ lại vừa không muốnlàm hỏng chiếc gối sứ, cứ tưởng chuyện ngon đều về hết tay hắn. Chuyệnnày Hoàng phật gia cũng biết rồi, muốn lừa thằng ngu đó khác gì trò đùa, phật gia dặn tao lúc lấy tấm bản đồ ra thì sao lại một bản, thằng nguĐiếu bát kia có nằm mơ cũng không nghĩ tới chiêu này.”

Tên mặt sẹo giơ ngón tay trỏ lên, ngay lập tức ra giọng nịnh bợ Hoàng phật gia: “Cao tay thật! Em phục đại ca sát đất.”

Hoàng phật gia hừ một tiếng, nói: “Thằng ngu Điếu bát đó cũng khôngtự hỏi xem mình là ai, một thằng ngu như nó mà đòi đi đào mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ?”

Tôi và Mặt dày nghe thì biết ngay sự tình, chỉ thấy Điếu bát sắc mặtlúc xanh lúc trắng, vừa xấu hổ vừa tức giận, chỉ muốn chui đầu xuốngđất, trong lòng đã chửi tổ tông tám đời nhà Hoàng phật gia rồi nhưngkhông dám lên tiếng. Anh ta biết rõ gặp phải bọn này thì không có kếtquả tốt.

Trời đã tối hẳn, chúng tôi trốn trong đám lau sậy không dám lêntiếng, chỉ nghe thấy Hoàng phật gia nói: “Trong tay chúng ta là tấm bảnđồ từ cuối đời Minh, cũng không biết bây giờ đã thay đổi như thế nào,giờ cứ tạm giữ hai người này dẫn đường.”

Lúc này, chúng tôi mới nghe thấy giọng nói rất quen thuộc cất lên:”Các ông thả tôi ra đi, nhà tôi ở tận Lão Giới Lĩnh, tôi chưa tới hồTiên Đôn lần nào, xa nhất cũng chỉ mới tới đầm Canh gà này thôi. Hômnay, cô gái này nhờ tôi đưa tới đây vẽ phong cảnh, các ông làm phúc thảtôi về đi, nhà tôi còn có người già trẻ nhỏ…”

Tôi rướn người về phía có tiếng nói, hóa ra là Lư mặt rỗ, còn có cảcô gái gặp trên tàu, theo lời Lư mặt rỗ nói thì cô gái này thích vẽtranh, nghe tôi và Lư mặt rỗ kể về hồ Tiên Đôn nên đã xuống tàu nhờ Lưmặt rỗ dẫn đường tới đây, không ngờ gặp ngay bọn Hoàng phật gia.

Hoàng phật gia cười nhạt: “Mày tên là Lư mặt rỗ? Cái tên đúng là rấthợp với bộ mặt của mày. Sao không nói sớm là mày chưa lên núi lần nào?”. Nói rồi, hắn bất chợt cầm lấy xẻng quất luôn một cái vào giữa mặt Lưmặt rỗ, Lư mặt rỗ kêu lên một tiếng, rồi ngã lăn ra đất, máu mồm máu mũi chảy đầy mặt, cơ thể không ngừng co giật, không còn kêu lên được tiếngnào nữa. Hoàng phật gia bồi thêm vài cái vào đầu Lư mặt rỗ, giết ngườixong mặt hắn không hề biến sắc, nói với bọn tay chân: “Đã nói với chúngmày tìm người địa phương dẫn đường, chúng mày lại tìm một thằng ngu thếnày à? Mau đào hố chôn nó đi cho tao.” Bọn tay chân không dám nói lạimột câu, cun cút đi tìm chỗ đất mềm đào huyệt. Tên eo rắn hỏi: “Phậtgia, còn con bé kia, xử lý thế nào?” Hoàng phật gia nghĩ: “Người trêngiang hồ đều mê tín, tài sắc không thể có cả hai, không thể để lỡ việcvì bọn đàn bà, đợi đào mộ cổ xong, lấy được đồ tùy táng, muốn chơi loạigái nào mà chẳng được.” Tên eo rắn mắt lim dim: “Con bé này đẹp như mộtđóa hoa, chôn đi thì cũng tiếc, tôi chẳng nỡ xuống tay, nhưng nghe lờiPhật gia cấm có sai, việc của chúng ta đã bị nó nhìn thấy hết rồi, giữlại chỉ là mầm họa…”

Vẫn được nghe Hoàng phật gia tâm địa độc ác, làm việc gì cũng khôngđể lại hậu họa, nhưng chẳng ai ngờ hắn nói giết người là giết người, ratay vừa nhanh vừa tàn nhẫn, mặt không chút biến sắc. Nếu không phải làchúng tôi nấp bên cạnh quan sát thì chỉ có trời mới biết trong đám lausậy này đã xảy ra chuyện gì. Chúng tôi có lòng muốn cứu Lư mặt rỗ cũngchẳng kịp ra tay. Nghe bọn này còn bàn nhau chôn sống cô gái kia, tôithấy máu nóng bốc rần rần lên mặt, đưa tay huých khẽ vào Mặt dày nháymắt ra hiệu, hắn ta hiểu ngay ý tôi. Chúng tôi mỗi đứa nắm một vốc đất,bất thình lình ném về phía bọn kia, bọn chúng không chút cảnh giác bịcát bụi bay vào mắt, những thằng còn lại chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra. Tôi nhặt chiếc xẻng trên mặt đất phang một nhát vào đầu Hoàng phật gia, máu chảy be bét, hắn ôm đầu ôm mặt kêu thảm thiết. Mặt dày thì nhắmchuẩn vào tên eo rắn đạp một phát chí mạng, tên eo rắn lập tức miệngphun ra máu, đổ rạp xuống đất không đứng dậy được. Nhân lúc hỗn loạn,chúng tôi kéo cô gái đứng lên bỏ chạy, đồng thời ra hiệu cho Điếu bátmau chóng rút lui.

Tôi vừa chạy vừa nói với Điếu bát: “Tôi báo thù cho anh rồi nhá. Nhát xẻng đó không đánh chết được tên Hoàng phật gia coi như nó mạng lớn.”

Điếu bát giờ mới hiểu ra sự tình, nhưng cổ họng cứng lại, chỉ nói được một câu: “Quá đẹp!”

3

Lúc này nghe thấy sau lưng bọn Hoàng phật gia đang la ó đuổi theo,bốn người không dám dừng lại, chạy như bay trong đầm lau sậy dưới ánhtrăng, chẳng quan tâm quần áo bị cào rách, tay chân xây xát, cho tới khi đến chỗ chiếc thuyền độc mộc. Đầm Canh gà chỉ có một con đường, đànhphải đẩy thuyền xuống nước, tôi nhớ ra súng đã bị rơi trong đám lau sậynhưng không còn cách nào quay lại lấy nữa, chúng tôi ra sức dùng xẻng và mái chèo để chèo thuyền ra phía ngoài hồ.

Hoàng phật gia mới tới đầm Canh gà, chưa có thuyền lại không thôngthạo đường hướng nên không đuổi kịp chúng tôi, chúng tôi chèo được mấytrăm mét, lại có sương mù che phủ, tự thấy tạm thời không nguy hiểm nữa, liền giảm bớt tốc độ, theo phương hướng trên la bàn thì chúng tôi đangchèo về phía bắc, cả mặt hồ rộng mênh mông, sương mù bao phủ, muốn tìmmột mô đất nghe chừng rất khó.

Điếu bát thấy mặt cô gái trắng bệch, biết là cô sợ, liền nói: “Emgái, không sao rồi, gặp bọn anh coi như gặp người nhà, tên Hoàng phậtgia đó ác thế nào thì cũng bị người anh em đây cho xơi một xẻng vào đầu, chứ chưa cần anh ra tay, anh mà ra tay thì trên giang hồ từ đây về saukhông còn người tên là Hoàng phật gia nữa đâu. Em đừng thấy anh mảnhkhảnh mà coi thường, quả cân tuy nhỏ nhưng có thể giữ được ngàn cân đấy, trình độ là ở chỗ đó. À, mà em tên gì nhỉ?”

Cô gái có đôi mắt to tròn sáng như sao, trên mặt vẫn còn ngấn nước mắt, nhẹ giọng nói: “Em họ Điền, tên Mộ Thanh”.

Điếu bát nói: “Em gọi anh là anh Điếu đi, hai người kia là Bì ChiếnĐấu[2] và Bạch Thắng Lợi[3]. Làm sao mà em gặp phải tên Hoàng phật giakia thế?”

[2] Bì Chiến Đấu: Chỉ Mặt dày.

[3] Bạch Thắng Lợi: Chỉ nhân vật tôi.

Điền Mộ Thanh kể ngắn gọn đầu đuôi câu chuyện, cũng giống như tôiphỏng đoán. Cô là giảng viên Học viện Mỹ thuật, gặp Lư mặt rỗ ở trêntàu, nghe anh ta kể về Tiên Đôn nên muốn tới xem. Sau khi xuống xe cùngLư mặt rỗ hỏi đường tới bên hồ chụp vài kiểu ảnh về làm tài liệu giảngdạy, Lư mặt rỗ cũng muốn kiếm thêm chút tiền nên nhanh chóng nhận lờidẫn đường cho cô. Do anh ta phải về nhà sắp xếp công việc nên tận hômnay mới tới, nếu không thì cũng chẳng gặp bọn Hoàng phật gia kia. ĐiềnMộ Thanh kể tới đoạn cô đã liên lụy tới Lư mặt rỗ làm anh ta phải chếtthì lại đau lòng.

Tôi nói: “Cũng không trách cô được, nếu không phải trên tàu tôi hỏichuyện Lư mặt rỗ về hồ Tiên Đôn thì cô đã không nghe thấy và cũng khôngnhờ anh ta dẫn đường tới đây.”

Điếu bát nói: “Nói cho cùng thì cũng là cái số. Thằng ngu Hoàng phậtgia đúng là chán sống rồi, nói giết người là giết người, con mẹ nó, đâylà thời đại nào vậy?” Anh ta vừa nãy bị bọn Hoàng phật gia liên tục gọilà thằng ngốc, trong lòng khó chịu nên bây giờ mở miệng ra là chửi lạibọn nó.

Mặt dày không biết Hoàng phật gia, liền hỏi thằng đó lai lịch thế nào mà không coi mạng người ra gì, không lẽ là thổ phỉ ở Dự Tây?

Tôi giải thích: “Hoàng phật gia xuất thân từ một thằng bán rong, tổtông tám đời nhà nó đều bán quẩy, đến đời nó cũng vậy. Năm nọ, hắn dùngdao đâm chết người bị bắt đi cải tạo lao động tại Tây Bắc. Tại đó, hắnquen một phạm nhân có biệt hiệu là Thành câm. Nghe nói thằng đó bị câmnhưng rất giỏi về thuốc nổ, sau khi được phóng thích, hai đứa nó đã tụtập một lũ đầu gấu cần tiền không cần mạng, chuyên làm mấy chuyện đàotrộm mộ cướp bảo vật…”

Mới kể tới đó thì sương mù xuống càng dày hơn, ánh sáng mặt trăngkhông soi tới mặt nước, mặt hồ tĩnh lặng kỳ lạ, thi thoảng nghe thấyxung quanh có tiếng cá búng nước.

Mặt dày lôi đèn pin ra soi, tứ bề đều là sương mù, không có la bàn thì chẳng biết đông tây nam bắc ở đâu.

Chắc do ba ngọn núi Thảo Hài, Thông Mã và Kê Lung như ba bức bìnhphong đã chặn hơi nước khiến sương mù trên mặt hồ tan rất chậm.

Tôi nói với Điếu bát: “Muốn sương trên hồ tan thì phải có trậnmưa…” vừa nói tới đó thì nghe phía sau có tiếng người, lắng tai nghehóa ra là bọn Hoàng phật gia, không ngờ bọn này tìm được thuyền nhanhthế.

Tôi hỏi Điền Mộ Thanh: “Bọn Hoàng phật gia có bao nhiêu người?”

Điền Mộ Thanh nói: “Tính cả hắn là mười bảy người.”

Mặt dày nói: “Súng thì bị rơi ở trong đám lau sậy rồi, tay không màđể bọn kia đuổi kịp thì có khác gì làm bia sống cho bọn nó bắn.”

Tôi nói: “May mà có sương mù, ngoài phạm vi mười mét không nhìn thấygì đâu, chúng ta chỉ chèo thuyền thôi, không lên tiếng nữa, chèo tách xa bọn Hoàng phật gia càng xa càng tốt.”

Điếu bát nói: “Đúng… đúng thế, trứng không chọi với đá được!”

Điền Mộ Thanh cũng giúp một tay, bốn người không ai lên tiếng, cắmcúi dùng xẻng và mái chèo chèo thuyền, ai mệt rồi thì người khác thay,nhưng mãi vẫn không cắt đuôi được bọn Hoàng phật gia, thời gian từngtiếng từng tiếng trôi qua, không rõ chúng tôi đã chèo trong sương mù bao lâu, bỗng thuyền chúng tôi đâm phải một mô đất, không ngờ sương dày như vậy mà chúng tôi vẫn tìm thấy mô đất, xem ra vận may của chúng tôi đãđến, mèo mù vẫn đớp được cá rán.

4

Những truyền thuyết về mộ cổ ở hồ Tiên Đôn thì rất nhiều, có ngườinói đó là một ngôi mộ cổ, có người thì nói chỉ là một nấm mô, lại cóngười nói đó là một lăng tẩm. Cũng là nơi chôn người chết nhưng lại cósự khác biệt, nếu là nơi chôn các bậc đế vương thì được gọi là lăng tẩm, vương gia thì gọi là mộ, dân thường chỉ gọi là phần. Chỉ biết mộ trênnúi Hùng Nhĩ là một huyệt mộ, nấm mộ chất cao như núi, nghe nói đườnghầm trong đó ngang dọc rất nhiều, hầm mộ rất to, nhưng không biết làchôn ai, vì vậy mới có người nói là lăng tẩm có người nói là mộ. Ngôi mộ này vốn nằm trong một ngọn núi, do hàng nghìn năm trước địa chất thayđổi nên bị lún xuống rất nghiêm trọng, ngôi mộ bị chìm trong nước. Mỗinăm hạn hán lại nhô lên khỏi mặt nước được một ít. Dân gian gọi là TiênĐôn và gọi hồ này là hồ Tiên Đôn, diện tích mặt hồ thay đổi theo mựcnước lên xuống từng mùa, nhưng vẫn dao động trong khoảng 300-400 hecta,thực không hề nhỏ chút nào. Nửa đêm sương mù mờ mịt, tầm nhìn xa chỉđược mười mét, cơ may có thể tới được mô đất này rất nhỏ, không ngờ nólại xuất hiện trước mặt chúng tôi.

Tôi thì thấy sự việc có gì đó là lạ, nhưng Điếu bát và Mặt dày đã bật đèn pin trèo lên mô đất xem xét.

Điền Mộ Thanh hỏi: “Các anh cũng đến tìm mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ sao?”

Tôi nghĩ thầm, từ lúc trên tàu Điền Mộ Thanh đã nghe tôi nói chuyệnvới Lư mặt rỗ về mộ cổ, nhưng chưa chắc đã biết chúng tôi cũng đi đàotrộm mộ, nhưng thấy cô ăn nói gãy gọn, chứng tỏ cũng là người thôngminh, mấy trò của chúng tôi không thể giấu cô ấy được, nói rõ sớm đi cho xong, liền nói với cô ấy: “Mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ động vào long mạchkhiến sông Hoàng Hà ngập sang sông Hoài, nhấn chìm vô số người dân.Chúng tôi tới tìm mộ cũng là vì nghĩ cho bách tính trăm họ. Hơn nữa đồvật là thứ vô tri vô giác, con người là sinh vật sống, chúng tôi khôngnhẫn tâm nhìn thấy những bảo vật này bị chôn dưới đất hoen rỉ. Chúng tôi không giống Hoàng phật gia, bọn họ chỉ là thổ phỉ, chúng tôi là vìnghĩa. Cũng giống như mô kim hiệu úy năm xưa, cô đã nghe tới cái tên môkim hiệu úy bao giờ chưa, đó chính là đội quân người nghèo chúng ta.”

Điền Mộ Thanh ngồi ngay trước mặt tôi, gần tới mức có thể nghe thấytiếng hơi thở của người đối diện, trong lớp sương mù dày đặc tôi khôngthể nhìn rõ được khuôn mặt của cô, nên lại thấy xa xăm như tận chântrời. Cô ấy không nói một lời, chỉ cúi đầu lắng nghe tôi nói.

Tôi đang định hỏi cô thì Điếu bát và Mặt dày đã thám thính quay về, nghe thấy tiếng bọn Hoàng phật gia cũng đã tới gần.

Điếu bát hoảng loạn trong lòng, hạ thấp giọng nói: “Mẹ nhà nó, sương mù dày thế mà nó vẫn mò tới được.”

Tôi nói với Điếu bát, trước đây nghe kể Hoàng phật gia có một đàn emmũi thính như chó săn, chỉ cần đứng trước mặt hắn một lúc thì hắn có thể tìm thấy mình xa hàng mấy dặm. Nếu đúng như vậy thì cho dù có chạy điđâu cũng không cắt đuôi được bọn này.

Điếu bát kinh ngạc nói: “Thế thì gay to rồi, may mà mô đất này cũng rộng, bọn mình tìm chỗ nào đó trốn tạm đi.”

Tôi biết tình hình nguy cấp, bọn Hoàng phật gia không để cho bọn tôitrốn thoát được, nghe Điếu bát nói mô đất này rất rộng thì tôi cũng thấy lạ, nhưng tình hình đang lúc khẩn cấp nên không còn thời gian suy nghĩnhiều.

Chúng tôi tìm thấy một cái hang, bên trong toàn là đất, liền giấu chiếc thuyền vào đó rồi leo lên mô đất.

Điếu bát dùng đèn pin soi đường, nói: “Cậu nhìn xem, đồi đất này rộng đấy chứ?”

Tôi nhìn một lượt, phía trước nhấp nhô từng mô đất kích thước tươngđương nhau, chắc là còn nhiều mô đất nữa sau lớp sương mù. Có một truyền thuyết về mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ, chính giữa có một nấm mộ rất to,xung quanh có nhiều mô đất nhỏ, tôi đoán những mô đất kia có khi là nấmmộ, nhưng dùng cuốc cuốc lớp đất bên trên đi thì phía sâu bên dưới làlớp gạch ngói cổ, giống như gian nhà.

Rất nhiều năm trước, có thể có cả một thôn làng bị chìm xuống nước,những năm gần đây, khi mực nước thấp dần thì mái nhà mới lộ ra, nhìn từxa giống như một ngôi mộ, có thể những người chết đeo mặt nạ vỏ câychính là dân bị chết đuối của ngôi làng này.

Điếu bát cầm tay tôi lắc mạnh: “Cậu đừng xem nữa, bọn Hoàng phật gia đuổi tới nơi rồi, nhanh lên.”

Tôi đang mải nhìn, vội nói: “Anh đừng lôi mạnh thế, tôi cũng là người do cha mẹ sinh ra, anh lôi mạnh thế không về được nguyên trạng đâu…”, tuy nói vậy nhưng tôi vẫn chạy theo sau họ, bước thấp bước cao trênnhững mái nhà lô nhô, càng đi càng lên cao, khoảng được trăm bước thìđường đi trong thôn đã cao hơn mặt nước hồ nhưng bị bùn đất bao phủ, chỉ nhìn thấy hình dạng đại khái, trông như một bãi tha ma để hoang. Đi vào giữa thôn, trông thấy một đụn đất cao như núi không nhìn thấy đỉnh,phía trên chìm trong mây, không biết mô đất này cao bao nhiêu, cảm giácnhư một bức tường thành đắp bằng đất, có thể phía trong là đá, bên ngoài đắp một lớp đất, lại bị chìm sâu trong nước nên trông như một tườngthành bằng đất, mộ cổ trên núi Hùng Nhĩ chính là chỗ này rồi.

Phía nam ngọn núi đất này là một phần lõm vào bên trong, soi đèn pinxuyên qua lớp sương mù vẫn nhìn thấy tận cùng phần lồi ra, cao khoảngnăm sáu mét, chúng tôi dùng cuốc chim và xẻng cào thử vài nhát, bêntrong lớp đất là cánh cửa đá, bên trên có vòng đồng đã hoen rỉ, hoa vănkhắc chìm trên mặt đá vẫn còn phân biệt được.

Bọn Hoàng phật gia sẽ đuổi kịp bất cứ lúc nào, chúng tôi biết khôngcó cơ hội đào ngôi mộ này rồi, vịt đã nấu chín mà còn để bị bay mất, bọn tôi đành nhìn thêm chút nữa rồi quay đi.

Mặt dày không cam tâm, tiến lên cố đẩy cánh cửa đá, không ngờ vừa mới đẩy thì cánh cửa đã từ từ dịch chuyển vào trong một chút, lớp đất cátbên trên theo đó rơi xuống.

Tôi và Điếu bát nhìn nhau, không nói hết sự kinh ngạc, Mặt dày cũng ngạc nhiên không kém, nhìn xuống hai bàn tay mình.

Trong đầu tôi hiện lên một ý nghĩ: “Bên trong cánh cửa đá này chắcchắn có rãnh trượt, nếu không thì bao nhiêu người cũng đừng hòng đẩyđược cánh cửa đá nặng trịch thế này. Rất có thể đây là hầm mộ tập thể,với nhiều quan quách được đưa vào hầm mộ trong nhiều thời điểm khácnhau, trước khi kịp đóng cửa huyệt thì nó đã bị chìm xuống đáy hồ.”

Bốn người chúng tôi hợp sức đẩy cánh cửa, cửa mộ bật mở, mùi ẩm mốckhông đến nỗi nồng nặc lắm. Tôi cầm đèn pin lên soi, bên trong là mộtrãnh trượt bị bào mòn rất nghiêm trọng, dường như nó thường xuyên đượcmở ra đóng lại rất nhiều lần nên thời gian trôi qua hơn hai nghìn năm mà vẫn mở dễ dàng như vậy được. Nhưng cũng chỉ có thể mở ra từ bên ngoài,chứ lại không thể nào kéo vào từ bên trong được. Trong hầm mộ tối lạnh,không có chút động tĩnh nào.

Chúng tôi khiếp sợ nhận ra tiếng bước chân của bọn Hoàng phật gia chỉ cách mình mấy chục bước. Bọn thổ phỉ vừa có súng vừa có thuốc nổ, đểbọn nó bắt được chỉ có nước chết. Mọi người buộc phải trốn vào trong hầm mộ, đẩy lớp cửa đá đóng lại cho khít rồi chèn chiếc cuốc chim vào bêndưới đường trượt, khóa chặt cánh cửa đá từ bên trong, cho dù bọn nó dùng thuốc nổ để phá cửa thì cũng không thể một chốc một lát mà mở ngayđược.

Điền Mộ Thanh nói: “Ngôi mộ cổ không có lối thoát hiểm, nếu bọn Hoàng phật gia đuổi tới thì chúng ta làm sao chạy ra ngoài được?”

Tôi nói: “Chúng ta có thể đào vào hầm mộ lấy bảo vật thì cũng có thểđào đường ra. Hơn nữa đường hầm rất sâu, lại lưu thông không khí, khônggian rộng rãi, không chừng trong lòng núi, chưa chắc đã không có lốithoát.”

Điếu bát nói: “Trong hầm mộ âm khí nặng nề, chúng ta trốn sâu vào trong thì bọn ngốc Hoàng phật gia kia còn lâu mới tìm được.”

Mặt dày nói: “Tốt nhất là mở quan tài lấy bảo vật trước bọn nó, cho bọn nó ăn quả hụt. Bà nội nó, vậy mới hả giận.”

Tôi nói: “Nơi này rộng quá, lại nhiều quan quách, dựa vào mấy đứa mình thì vác được mấy.”

Mặt dày nói: “Cái gì có giá thì lấy cái đó, chúng ta làm việc theonguyên tắc gây tổn hại người khác là chính, không cần phải có lợi chomình, không mang đi được cũng không để rơi vào tay bọn nó.”

Chúng tôi chuẩn bị đi sâu vào bên trong, khi đi qua động Hoàng Sào,chúng tôi đã làm mấy bó đuốc, đến đây vẫn chưa dùng hết. Điếu bát lôi ra hai bó, một là để soi đường đuổi bọn rắn rết, hai là để biết bên trongcó lưu thông không khí hay không, nếu đuốc đột nhiên tắt chứng tỏ bêntrong vẫn còn tích tụ nhiều âm khí. Từ lúc có đèn pin, nhiều dân đào mộkhông chuyên nghiệp không còn dùng đuốc nữa, vì thế mỗi năm đều ngheđược tin có người chết ngạt trong hầm mộ. Phàm chuyện gì có lợi thì cũng sẽ có mặt hại, đôi lúc âm khí trong quan tài và hầm mộ gặp phải tia lửa sẽ phát nổ như pháo hoa, đừng nói con người đến tường gạch trong hầm mộ cũng bị cháy sém, nhưng trường hợp này rất hiếm khi xảy ra, nếu lỡ gặpphải thì chỉ còn biết trách mình xui xẻo mà thôi.

Tôi đón lấy bó đuốc châm lửa, đường hầm tối om bỗng sáng hẳn lên, chỉ thấy ba người còn lại đang trợn mắt há hốc mồm nhìn tôi.

Hơi bất ngờ một chút, nhưng tôi hiểu ngay không phải họ nhìn tôi mà đang nhìn thứ ở sau lưng tôi, sau lưng tôi có gì được nhỉ?

5

Bị ba người kia nhìn như vậy, làm tôi thấy lạnh cả sống lưng, tôichuẩn bị sẵn tinh thần để né tránh, quay đầu lại nhìn, hóa ra đó chỉ làmột bức tranh vẽ hình con vật mặt trắng toát, đầu to như cái đấu, khuônmặt cũng to như vậy, mặt vuông tai to, để hai hàng ria mép, thần tháiquái dị, mặt người thân thú, đuôi là chín con rắn, lấy mây làm quần áo,thấy hình thù này trong bóng tối đúng là rất kinh sợ.

Mặt dày nói: “Bộ dạng chủ nhân ngôi mộ là thế này à, thật khác xa so với tưởng tượng của tôi.”

Tôi nói: “Đó là thần vật ăn thịt người trên núi Côn Luân theo truyềnthuyết của người xưa. Đặt ở đây để trấn mộ, chẳng động đậy được thì dọađược ai chứ?”

Điếu bát nói: “Từ thời Hán tới giờ, đã hơn hai nghìn năm rồi mà màusắc bức tranh vẫn tươi tắn như vậy. Chắc bảo vật trong hầm mộ vẫn đượcgiữ nguyên vẹn.”

Điền Mộ Thanh hỏi: “Các anh nói đây là bích họa từ thời Hán?”

Điếu bát nói: “Dưới hồ Tiên Đôn là mộ cổ thời Hán, bích họa trong mộ đương nhiên là từ thời Hán rồi.”

Điền Mộ Thanh nói: “Tôi tưởng là của thời Đường?”

Tôi nghĩ Điền Mộ Thanh là giáo viên mỹ thuật, có thể nhận ra bức bích họa của thời Đường cũng không có gì là khó, tôi cũng đồng quan điểm với cô ấy.

Tôi nói với Điếu bát: “Hình thần vật núi Côn Luân trong tranh xuấtphát từ truyền thuyết thời Hán, nhưng bức họa này đúng là mang đặc điểmcủa thời Đường.”

Điếu bát thắc mắc: “Sao lại là mộ cổ đời Đường được?”

Tôi nói: “Tôi nhìn thấy hoa văn khắc chìm trên cửa mộ là của thời Hán.”

Điếu bát nói: “Vậy thì lạ nhỉ, trong mộ cổ đời Hán có tranh của đời Đường sao?”

Tôi nói: “Lần trước, chúng ta nghe lời đồn ở thôn Phi Tiên, nên nghĩrằng ngôi mộ này có từ thời Hán, nhưng thực tình đây là một ngôi mộ tậpthể, hầm mộ này được đào trong lòng núi, từ thời Hán tới thời Đườngkhông ngừng có quan tài được chuyển vào đây, đến tận thời Đường khi xảyra địa chấn, cả ngôi mộ chìm trong nước, kể từ đó cách biệt với thế giới bên ngoài.”

Điếu bát thấy rất ly kỳ: “Từ thời Hán tới thời Đường hơn một nghìnnăm không ngừng có quan quách được chuyển vào đây, vậy đó là những người nào?”

Tôi nói: “Cái đó tôi cũng không biết. Nói chung có rất nhiều điểm không rõ ràng.”

Kiểu bài trí trong hầm mộ này có thể nói là điên đảo càn khôn, đảongược âm dương, bị chìm trong nước hàng nghìn năm, nhưng bên trong lạikhông có dấu tích bị ngâm trong nước, quan tài bằng ngọc, tượng bằngvàng, thi thể khô đeo mặt nạ bằng vỏ cây, nhà cửa xung quanh ngọn núiv.v… tất cả đều toát lên vẻ kỳ bí. Trước khi làm rõ được lai lịch củachủ nhân ngôi mộ, tất cả đều như lớp sương mù trên mặt hồ, khiến ngườita “nhìn không tỏ, nghĩ không thông”.

Mặt dày nói: “Không nghĩ ra thì đừng nghĩ nữa, chủ nhân ngôi mộ nằmtrong cỗ quan tài kia kìa, bọn ta qua đó xem là rõ ngay thôi.”

Điếu bát nói: “Đi sâu vào trong thì phải cẩn thận, mọi người đi sát vào, cách nhau nửa bước chân thôi.”

Tôi thắp hai bó đuốc, tôi và Mặt dày mỗi người một bó, hai người kiacầm đèn pin, từng bước từng bước đi sâu vào bên trong. Hầm mộ được đàotrong lòng núi, phía trên phía dưới đều bằng phẳng. Đi được mười mấy mét lại là một lần cửa, cả bọn đi vào bên trong, đang định đóng cửa lại thì Điếu bát kêu lên: “Không được, đừng đóng vội!”

Tôi hỏi lại mới biết, Điếu bát để quên ba lô trong đường hầm. Lúc đó, cả bọn đang chăm chú quan sát bức bích họa, còn nói đó là bức tranhmang phong cách thời Đường, anh ta bỏ ba lô xuống đất để lấy đuốc ra,sau đó quên cầm ba lô. Lương khô và đuốc dự phòng đều để cả trong đó.

Điếu bát nói: “Trong đó đều là đồ thiết yếu, tôi phải quay lại lấy…”, nói rồi quay lưng đi trở ra.

Tôi nói Điếu bát cứ chờ ở đây, tôi đưa ba lô của mình cho anh ta, rồi cầm lấy xẻng và đuốc quay lại đường hầm lấy ba lô cho anh ta. Lúc trước đi cùng ba người kia trong đoạn đường hầm này thì không thấy gì, nhưnggiờ một mình quay lại, tuy chỉ khoảng mấy chục mét nhưng cũng thấy ghêngười. Nơi này ẩm thấp, lạnh lẽo, tối tăm, vách đá và đường hầm không có chút sinh khí. Tới lần cửa đá thứ nhất thì tôi tìm thấy ba lô của Điếubát. Trong đường hầm một màu tối đen, chỉ cách mấy chục mét mà đã khôngthấy ánh đuốc của hội Điếu bát đâu, bất giác rợn tóc gáy, tôi vội vàngchạy về phía bọn họ. Ai ngờ, vừa nhấc chân lên định đi thì một tiếng nổlong trời lở đất vang lên, đất đá rơi xuống ầm ầm, tôi bị sức ép bắn vào tường đường hầm, hai tai ù đặc, trong đầu toàn tiếng ong ong, máu chảyrần rần trong huyết quản, bó đuốc bị rơi xuống đất tắt rụi.

6

Tôi ngã xuống chân tường, đầu óc ong ong, lịm đi mất mười mấy giây,khi tỉnh lại đã thấy bọn Hoàng phật gia đang đi vào trong lớp khói thuốc mù mịt. Bọn chúng đều cầm đuốc, nhưng vì khói thuốc chưa tan, cú nổ vừa rồi khiến bụi đá bay mù mịt nên không ai phát hiện ra có người nơi chân tường. Tôi sờ được chiếc xẻng bị rơi bên cạnh, từ từ đứng dậy, khônglên tiếng, trà trộn vào trong đám người kia, mặt mũi ai nấy đều đennhẻm, lại đi trong làn khói bụi mờ mịt nên chẳng ai phát giác ra điềugì.

Tôi cố gắng há miệng to hết cỡ, cảm giác màng nhĩ vẫn chưa bị rách,thính giác dần hồi phục, nghe thấy tiếng tên eo rắn: “Có đám trung thầntướng giỏi như bọn mình đi phò tá Hoàng phật gia, dùng thuốc nổ mở cửahầm mộ chỉ là chuyện nhỏ, mọi người chuẩn bị phát tài rồi.” Hoàng phậtgia nói: “Bọn ngốc Điếu bát đúng là đã vào trong hầm mộ này thật sao?”Tên eo rắn lại nói: “Thằng Mũi chó ngửi thấy mùi mà, không sai được đâu. Mấy tên đó chán sống rồi, dám vuốt râu hùm. Phật gia… đầu của đại cakhông sao chứ?” Hoàng phật gia hừ mũi một tiếng: “Thế này nhằm nhò gì… Tao đã luyện qua rồi…” Tên eo rắn ngay lập tức nịnh nọt Hoàng phậtgia: “Nói thật với đại ca, em nhận ra từ lâu rồi, bọn phàm phu ăn toànngũ cốc với lương thực linh tinh đó làm sao mà có công phu như đại cađược.”

Tôi nhìn thấy cái đầu toàn thịt của Hoàng phật gia cứ lúc lắc trướcmặt lại nhớ tới Lư mặt rỗ chết dưới tay hắn như thế nào, không nén nổitức giận, đứng từ phía sau hỏi hắn: “Phật gia, cái đầu của mày chịu được mấy nhát xẻng?”

Hoàng phật gia nói: “Dăm ba nhát chỉ là chuyện đùa. Ớ… mày là thằng nào?”

Tôi không đợi Hoàng phật gia quay lại, xẻng đã cầm sẵn trong tay từlâu, lấy hết sức bình sinh nện lên đầu hắn, lần này dùng lực rất mạnh,chỉ nghe kêu chát một tiếng, méo cả xẻng. Nhưng đầu tên Hoàng phật giađúng là cứng hơn người bình thường, bị đánh như vậy mà hắn không bị vỡđầu, nhưng cũng bị thương không nhẹ, hắn ngã vật ra đất, kêu lên: “Á…mẹ đứa nào lại đánh lén ông?”

Bọn tay chân Hoàng phật gia tuy toàn bọn liều mạng, nhưng là đội quân ô hợp, chỉ chờ cơ hội kiếm lợi cho mình, nhân lúc bọn đó vẫn chưa kịpphản ứng, tôi chạy vội tới lần cửa thứ hai. Sau lưng vẫn nghe thấy tiếng Hoàng phật gia hò hét tay chân đuổi theo.

Tôi ba chân bốn cẳng chạy tới lần cửa thứ hai, hội Điếu bát nghe thấy tiếng nổ cũng biết là bọn Hoàng phật gia đã vào bên trong, đang sốtruột thì thấy tôi chạy lại, vội vàng đẩy thật mạnh cánh cửa đá khép lại, nhưng ánh đuốc đã chập chờn nhấp nhô trong đường hầm, đuổi sát tới nơi. Chúng tôi không kịp đóng lần cửa thứ hai nữa, đành phải chạy thật nhanh vào phía sâu bên trong, phía trước còn lần cửa thứ ba nữa. Bốn ngườichúng tôi tháo chạy qua lần cửa đó thì tới cuối đường hầm, đi qua chiếccửa vòm bằng đá là vào tới hầm mộ. Tường bên trong hầm mộ đều được xâygạch, trên nóc hầm và nền hầm mộ đều lát gạch, có cột trụ đá và xà ngang bằng đá chống đỡ. Bụi bám đầy trên tường, hầm mộ khá lớn nhưng đơn sơvà tồi tàn khiến không khí bên trong càng u ám.

Chúng tôi nghĩ đây mới chỉ là tiền điện, đi sâu vào bên trong chắcmới là chính điện nơi đặt quan quách, nên vội đi sang bên đối diện vớiđiện đá, nhưng trong đó không có lối đi.

Mặt dày cuống lên, nói: “Bọn Hoàng phật gia sắp đuổi kịp rồi, phíatrước lại không có đường, mình quyết trận sống mái với bọn nó vậy, đánhđược một thằng là gỡ vốn, được hai thằng là đã lời rồi.”

Điếu bát thất kinh nói: “Không thể được, đó là hành động vũ phu, phải bình tĩnh”.

Tôi nghĩ bụng: “Bọn chúng có thuốc nổ, còn hội mình chỉ có xẻng vàcuốc chim. Nếu đánh nhau với bọn nó mà mất mạng thì quá thiệt…” Tronglúc không có kế sách gì, tôi thất vọng nhìn lên chỗ xà ngang trên trầnđiện, chợt nảy ra một ý, giờ chỉ còn cách trèo lên đó trốn tạm thôi.

Tôi lấy dây thừng ra đưa cho Điền Mộ Thanh, tôi và hai người kiachồng lên nhau làm thang để Điền Mộ Thanh lên trước rồi thả dây thừngxuống, chúng tôi đu dây thừng lên sau. Chỉ lo Điền Mộ Thanh sợ quá sẽngã từ trên cao xuống, không ngờ động tác của cô ấy hết sức nhanh nhẹn,nhẹ nhàng, cái đáng nói là gặp sự cố cô vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Khicô đã leo lên đến thanh xà ngang bằng đá, tôi và Mặt dày đu lên sợi dâythừng cô vừa thả xuống, rồi kéo Điếu bát lên. Bốn người vừa nằm phụcxuống thì bọn Hoàng phật gia cũng vừa vặn vào tới trong điện. Chúng tôitắt đuốc và đèn pin, nằm phủ phục trên thành xà ngang không dám độngđậy, chỉ sợ thở mạnh một chút sẽ thổi bay đám bụi xuống bên dưới làmkinh động tới bọn Hoàng phật gia. Cả bọn nằm im như vậy quan sát. Trongthế nguy hiểm, tôi bất giác có cảm giác sợ hãi. Nhưng những gì sắp xảyra bên dưới khiến tôi không thể nào tin vào mắt mình.

Bình luận